Google Map
Đăng nhập
Tên đăng nhập

Mật khẩu



Liên kết mạng xã hội
Quảng cáo
Lễ Huý kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 scscs Lễ Huý kỵ 382 ưassa Nhà từ đường họ Đào Duy Lễ Húy kỷ82 Lễ Huý kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 hinh Lễ Huý kỵ 382 hinh Lễ Huý kỵ 382 hinh 383 383 383 383
Thống kê truy cập
Hình ảnh hoạt động
Lễ Huý kỵ 383 Lễ Huý kỵ 382 hinh hinh Lễ Huý kỵ 382 Dâng hương ngày 05/01/2017 Chạp mả 2016 hinh Đào Duy Hương Tảo mộ tại Lăng Chạp mả 2016 Chạp mả 2016 Đào Duy Lộc Chạp mả 2016 Thanh Bình Từ Đường Chạp mả Đào Duy Lộc Tảo mộ tại Lăng Láng Thái Sư Hoằng Quốc Công Đào Duy Từ Bia di tích lịch sử "Lũy Thầy" Bản đồ "lũy Thầy" tại Quảng Bình Hổ Trướng Khu Cơ Thanh Bình Từ Đường Sách gia phả họ Đào Duy tại Cự Tài Dấu tích lịch sử "Lũy Thầy" Bản đồ Việt Nam (chia 2 miền Nam - Bắc) Đền Thờ Thái Sư Hoằng Quốc Công Đào Duy Từ Dấu tích lịch sử "Lũy Thầy" tại Quảng Bình Dấu tích lịch sử "Lũy Thầy" - Quảng Bình Bồ Đề tự (chùa Bà) Chạp mả 2016 hinh Di tích lịch sử Lũy Thầy Thiệp mời Dàn nhã nhạc Chạp mả 2016 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Húy kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 BảnđồNam - Bắc Lễ Huý kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 Nhà từ đường họ Đào Duy Lễ Huý kỵ 382 Lễ Huý kỵ 382 nhà từ đường họ Đào Duy hinh Lễ Huý kỵ 382 Chạp mả 2016 383 383 383 383 383 383 383
Liên kết website

Tư Dung Vãn (ca ngợi cửa biển Tư Hiền ở Thừa Thiên), viết bằng chữ Nôm theo thể văn vần được các nhà nghiên cứu đánh giá cao xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết của nền văn học Đàng Trong.

 

TƯ DUNG VÃN

 

Cõi nam từ định phong cương,

 

Thành đồng chống vững âu vàng đặt an.

 

Trải xem mấy chốn hồ san,

 

Hoa tươi cỏ tốt đòi ngàn gấm phong.

 

5. Khéo ưa thay cảnh Tư Dung,

 

Cửa thâu bốn bể, nước thông trăm ngòi,

 

Trên trời tinh tú phân ngôi,

 

Đêm treo thỏ bạc, ngày soi ác vàng.

 

Dưới thời sơn thủy khác thường,

 

10. Động Đình ấy nước, Thái Hàng kìa non.

 

Cuộc thiên hiểm nữa Kiếm môn,

 

Chốn tranh vương bá, dòng tuôn công hầu,

 

Vần xoay hùm núp rồng chầu,

 

Đoanh dòng nước biếc, giỡn màu trời xanh.

 

15. Đoái dòng thương hải rộng thênh,

 

Bâng khuâng sẽ nhớ đức lành tiên quân.

 

Đường Ngu lấy đức trị dân,

 

Súng trời buông lửa sóng thần nép oai.

 

Đặt an nệm chiếu trong ngoài,

 

20. Cánh chim hồng nhạn phới bay vui vầy.

 

Sực nhìn đáy nước in mây,

 

Trăng kia rọi sóng, sóng này vờn trăng.

 

Đuốc hồng thấp thoáng trông chừng,

 

Đưa thoi nhật nguyệt, chơi vừng Đẩu Ngưu.

 

25. Lần xem ngàn khoảnh ba đào,

 

Vũng không thấy đục, dòng nào chẳng trong.

 

Éo le lũ hến đầu đông,

 

Sức đâu tinh vệ ra công lấp hồ?

 

Nực cười hai gã ngao cò,

 

30. Tranh chi nên nỗi đôi co vậy là?

 

Thú vui sửa thú ngư hà,

 

Rùa linh đội sách, bạng già sanh châu.

 

Thẳm xanh trăm trượng khôn dò,

 

Cớ sao khát uống chẳng no một người.

 

35. Lẽ thường đắp đổi đầy vơi,

 

Chi Di bao nỡ tách khơi Ngũ Hồ?

 

Nhạn đâu văng vẳng kêu thu,

 

Trương Hàn hứng cảm Thành Đô ra về.

 

Canh thuần gỏi vược thú quê,

 

40. Nồng phương tiêu sái, lạt bề công danh.

 

Cảnh mầu trời sẵn để dành,

 

Có doi thả lưới, có gành buông câu.

 

Bên thuyền lác đác giọt châu,

 

Cầm đâu đá phiếm, ca đâu lại bài.

 

45. Lạnh lùng lĩnh bắc khoảnh tây,

 

Thuấn cày đỉnh Lịch, Doãn cày nội Sân.

 

Gió đưa thoảng nực mùi nhang,

 

Người tiên đất ngọc phong quang ưa nhìn.

 

Có nơi vịnh nguyệt bá thuyền,

 

50. Kinh ngâm thảnh thót, chuông chiền đỉnh đang.

 

Là nơi từ vũ nghiêm trang,

 

Trung trinh hai chữ, lửa hương muôn đời.

 

Đông tây đều khách vãng lai,

 

Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò.

 

55. Am ta kiết lập non Vu,

 

Đêm khuya nghe gióng chuông chùa Ba Viên.

 

Dập dìu buồm xuống thuyền lên,

 

Cánh hồng lướt gió, khách tiên nghiêng hồ.

 

Bên ngàn đá mọc khi khu,

 

60. Cây che tán gấm ngàn thu diềm dà.

 

Thú vui mảng những lân la,

 

Bỗng đâu xao xác tiếng gà gióng canh.

 

Bích đàm leo lẻo trong xanh,

 

Kìa dòng kiệu tấu (?), nọ danh miếu thờ.

 

65. Danh thành tiếng nổi gần xa,

 

Làm trai dường ấy thiệt đà nên trai.

 

Mênh mông biển rộng trời dài,

 

Hải tân còn dấu, Vân đài còn danh.

 

So le cuối vịnh đầu gành,

 

70. Người nôn bắt ngạc, kẻ giành cắp ngao.

 

Côn đưa sóng nhảy lao xao,

 

Vẫy đuôi một phút bay cao chín trời.

 

Xa trông biển rộng vơi vơi,

 

Thuyền ông Phu tử nổi chơi chốn nào?

 

75. Lánh đời mấy khách ly tao,

 

Non tiên ngả ngớn, nguồn Đào thảnh thơi.

 

Buồm ai dàng dạng chân trời,

 

Phất phơ cờ gió, thẳng vời chèo trăng.

 

Lửa ngư ánh lộn bóng Hằng,

 

80. Nhắm miền hải đảo tưởng chừng Thiên Thai.

 

Thủy tuần chốn ấy nghiêm thay,

 

Người vui rượu thánh, cá say thơ thần.

 

Chợ hoa quán nguyệt ngày xuân,

 

Mặc dầu khách Sở người Tần nghỉ ngơi.

 

85. Kìa đâu khói biếc ngời ngời,

 

Mỗi am một đảnh kẻ nơi Bồng Hồ.

 

Bút Vương Duy khéo vẽ đồ,

 

Mây xuân dường gấm, nước thu tợ ngần.

 

Người thanh tân cảnh thanh tân,

 

90. Ngàn lau quến nhạn, bãi tần sa le.

 

Mảng còn ngợi cảnh giang khê,

 

Lá ngô phơi nắng, ngọn quì đầm sương.

 

Vẳng nghe điêu đẩu tiếng vang,

 

Ló xem thấy một tòa vàng cẩn nghiêm.

 

95. Tử vi rạng tỏ trước rèm,

 

Trong mừng Chúa Thánh dủ xiêm trị lành.

 

Điềm trình hải yến hà thanh,

 

Khánh vân quanh nhiễu, cảnh tinh sáng lòa.

 

Đòi nơi tiệc mở ỷ la,

 

100. Chốn ngâm Bạch tuyết, nơi ca Thái bình.

 

Rợp đường kiệu tía tàn xanh,

 

Kìa đoàn quân sói, nọ doanh tướng hùm.

 

Giữa trời rộng dẫy mây sum,

 

Xuân đưa muôn hộc, đàm thâm hòa ngàn.

 

105. Cửa son trông lại bến lan,

 

Giữa dòng nổi đá thạch bàn lạ sao!

 

Kình nghê chống vững đỉnh ngao,

 

Gập gềnh, nanh sấu, dợn xao bọt kình.

 

Kim ngư đeo ấn ở mình.

 

Cá trông cửa Vũ, rồng giành hạt châu.

 

110. Vườn lê muôn khoảnh mơ hồ,

 

Gấm tuôn vẻ biếc, quyến phô nhị đào.

 

Giao long cuồn cuộn chầu vào,

 

Sánh nơi cửa ngọc khác nào cung tiên.

 

115. Hồ gương rạng tỏ thuyền quyên,

 

Đêm thanh có khách nổi thuyền ca chơi.

 

Ca rằng:

 

Non xanh xanh, nước xanh xanh,

 

Có non có nước mới song thanh.

 

Hồ tiên biển thánh dầu thong thả,

 

Thuyền ai một lá nổi Động Đình?

 

Ca thôi thóc thóc cả cười,

 

Ghé thuyền bãi tuyết nhẹ giày bước lên.

 

Thần châu cảnh hảo vô biên,

 

120. Lãnh mai sơn tẩu hồ liên tây hồ

 

Đoái nhìn nọ tháp kìa chùa,

 

Trinh năng một đỉnh Cổ Cò khá khen.

 

Bửu đông nên một hồ thiên,

 

Trăng thiền soi tỏ rừng thiền rạng thanh.

 

125. Lạ thay tạo hóa đúc hình,

 

Đất bằng nổi một đỉnh xanh trước trời.

 

Xa trông chất ngất am mây,

 

Mái nam hạc nhiễu, mái tây rồng chầu.

 

Càn khôn riêng quảy một bầu,

 

130. Ngoài thâu tám cõi, trong thâu ba tài.

 

Tốt thay cảnh hợp với người,

 

Đã lâu trông sóng lại dài chơi trăng.

 

Sóc tuông cáo nhảy tưng bừng,

 

Ong say mến nhị, bướm mừng rỡn hoa.

 

135. Những khi khói tỏa yên hà,

 

Mảng âu mấy chốn Di Đà Tây Thiên.

 

Những khi Thái Ất nhen đèn,

 

Hào quang soi tỏ trên đền Thái La.

 

Những khi bóng ác ban tà,

 

140. Mành treo gấm kết, cửa già vàng tương.

 

Những khi Ngân Hán treo gương,

 

Kim quy hiện vảy, lụa dương mở mày.

 

Trách lòng ai khéo thày lay,

 

Khua chuông lầu bắc, gióng chày thành nam.

 

145. Chốn thanh gọi một danh lam,

 

Ước tay tiêu sái mới cam dựa nhờ.

 

Linh chi rưới nước ma ha,

 

Trân cầm chiu chít, kỳ hoa lăng tằng.

 

Thiên thê tùng vẹn dầy tầng,

 

150. Bước lên ngửa đã thấy chừng Ngọc kinh.

 

Tay tiên chống vững thạch bình,

 

Tam quan trông thấy uy linh động người.

 

Xưa kia ba chữ tốt tươi,

 

Rằng: Chương hải tự kết vời Huyền đô.

 

155.    Rõ ràng son điểm phấn tô,

 

Bên tranh cửu lão, bên đồ bát tiên.

 

Chuông đâu vừa động mái thiền,

 

Mây lành kết đóa, trái xanh phơi màu.

 

Cuộc đời lồng lộng trước sau,

 

160. Từ Bi nọ các, Tiêu Dao ấy đền.

 

Kíp thâu thế giới ba nghìn,

 

Danh sơn có một, danh chiền đâu hai.

 

Rửa thanh bán điểm trần ai,

 

Nghĩ xem tiên cảnh đă ngoài phàm gian.

 

165. Tòa vàng bông lục chan chan,

 

Đơn thanh quyết vẽ, trần đàn cột xoi.

 

Đòi nơi ngọc trổ châu rơi,

 

San hô lề đá, đồi mồi tường xây.

 

Mưa hoa rưới khắp sân mây,

 

170. Khói hương nghi ngút, rồng bay ngất trời.

 

Nghiêm thay tướng pháp Như Lai,

 

Cao giơ tuệ kiếm sáng ngời thủy tinh.

 

Thời lành cả mở hội lành,

 

Reo đưa gió Phật quét thanh bụi tà.

 

175. Vây đoàn yến múa oanh ca,

 

Vượn xanh dâng trái, hạc già nghe kinh.

 

Phật đình nào khác Vương đình.

 

Ngũ vân tán lớn, cảnh tinh thoại tường.

 

Tiên nga nâng chén quỳnh tương,

 

180. Tiêu thiều nhạc múa, thái dương khí hòa.

 

Xiêm nghê rạng thức tử hà,

 

Kim đồng ngọc nữ xướng ca đôi hàng.

 

Người dâng thánh thọ vô cương,

 

Đóa Diêu nhành Ngụy thiên hương đầy tòa.

 

185. Rừng công cây đức diềm dà,

 

Trổ chồi y bát, kết hoa bồ đề.

 

Vẳng nghe tiếng mõ già lê,

 

Ngòi phiền biến não rửa thì sạch không.

 

Dịch nên cảnh lạ vô song,

 

190. Hứng xui tao khách điêu trùng ngợi khen.

 

Thơ rằng:

 

Một bầu chi cũng thú yên hà,

 

Nghi ngút hương bay của Thái La.

 

Ngày vắng vang reo chuông Bát nhã,

 

Đêm thanh dóng dỏi kệ Di – Đà.

 

Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh,

 

Réo rắt chim ca thuở bóng tà.

 

Há đạo đâu xa mà nhọc kiếm?

 

Bồ Đề kết quả ở lòng ta.

 

Thơ thôi vẫy gọi thiền tăng:

 

Cảnh này thú ấy vui chăng hỡi thầy?

 

Nghêu ngao tắm suối nằm mây,

 

Thị phi mặc thế, tháng ngày thung dung.

 

195. Làu làu gương sáng giá trong,

 

Vui niềm son đỏ, lánh vòng bạc đen.

 

Người đà nên đấng cao thiền,

 

Phật dầu chưa hẳn, ắt tiên đã gần.

 

Kìa ai thói tục chẳng răn,

 

ĐÀO DUY LỘC (sưu tầm - biên soạn)

(Theo Sử Việt)